(Bài từ năm 2016 và tới nay vẫn rất chính xác

(Bài từ năm 2016 và tới nay vẫn rất chính xác. Nói chung nên lên kịch bản vỡ debt đi là vừa)
Nợ công của chúng ta hiện nay có 4 đặc trưng nổi bật. Thứ nhất là, nợ công tăng nhanh hơn mọi dự báo, kể cả những dự báo bi quan nhất, thậm chí vượt cả dự tính của Bộ Tài chính. Đây là một trong những dấu hiệu nguy hiểm nhất và ngày càng hiện hữu rõ hơn. Hai là, nợ công chưa được hiểu hết, chưa được tính đúng, tính đủ mà nó đã tạo ra áp lực như vậy rồi, nếu tính đúng, tính đủ nó còn tăng hơn nữa, thậm chí gấp đôi mức hiện nay. Thứ ba là, cơ chế quản lý nợ, trả nợ, trách nhiệm đối với nợ chưa thật rõ ràng. Và cuối cùng nữa là, vẫn còn các tác nhân khác gây ra khiến cho nợ công còn tiếp tục tăng nhanh, mà tác nhân lớn nhất ở đây chính là đầu tư công, là doanh nghiệp nhà nước (DNNN), là quản lý nhà nước.
Đây là 4 đặc trưng cơ bản của nợ công ở Việt Nam, đồng thời cũng là 4 dấu hiệu đáng báo động của nợ công việt Nam.
Nhưng trên thế giới nước nào mà chả có nợ công, thưa ông?
– Nếu chúng ta nhìn rộng ra về nợ công, thì chúng ta thấy rằng, thực ra con số 65%, thậm chí là 100% không quan trọng, mà quan trọng là ở khả năng trả nợ, khả năng thu ngân sách, khả năng chi tiêu… So với các nước khác, thì nợ công của chúng ta còn nguy hiểm gấp đôi. Vì sao? EU họ cũng nợ công, nhưng họ có cộng đồng, có những nước mạnh như nước Đức, có IMF, có các tổ chức tài chính khác hỗ trợ cho nên họ vẫn điều chỉnh được. Mỹ cũng nợ công lớn nhưng họ có đồng đô la, có lượng dự trữ lớn, có uy tín, có thể chế. Nhật Bản cũng vậy. Hầu hết các nước khác cũng đều như vậy.
Tỉ lệ nợ công ở Việt Nam không phải là quá nguy hiểm, thế nhưng xét về khả năng trả nợ, uy tín thì Việt Nam thuộc diện tốp nguy hiểm. Bởi vì: Thứ nhất, dự trữ ngoại tệ của ta rất hiếm, rất mỏng. Thứ hai là, độ ổn định bền vững của kinh tế không lớn. Nguồn thu ngày càng hẹp lại. Tiếp nữa là sự lỏng lẻo trong cơ chế dẫn đến thất thoát quá lớn. Xử lý trách nhiệm nợ công không thật rõ ràng… Đấy là những lý do khiến cho nợ công của chúng ta nguy hiểm hơn nhiều nếu so với các nước khác. Ví dụ, nợ công ở Mỹ muốn tăng được phải do Quốc hội thông qua. Ở ta có khi tăng xong rồi thì Quốc hội mới được thông báo và buộc phải thông qua. Thứ 3 là, sự phân công, phân cấp và hiểu về nợ nó không thật đầy đủ, không những không đúng chuẩn thế giới mà trách nhiệm của người quản lý nợ cũng chưa được quy định, nếu không muốn nói là không phải chịu trách nhiệm gì. Ở các nước khác nếu ai gây ra nợ công sẽ bị chỉ đích danh và phải chịu trách nhiệm.
Theo ông thì tác nhân chính nào khiến cho nợ công của Việt Nam tiếp tục phi mã?
– Có 2 tác nhân khiến cho nợ công của Việt Nam sẽ còn tiếp tục tăng nhanh trong những năm tới là DNNN và đầu tư công.
Đối với vốn vay cho DNNN lâu nay chúng ta không tính vào nợ công, nhưng đáng ra là phải tính. Ví dụ như Vinasin chẳng hạn, bao nhiêu NSNN, tiền đi vay đổ vào đấy.
Đầu tư công cũng vậy. Việc quy hoạch, hệ thống quy hoạch, trách nhiệm quản lý quy hoạch, sự phân công, phân cấp quản lý cho các địa phương là rất yếu kém. Vì thế mới có chuyện tranh nhau làm dự án, đua nhau làm trụ sở, đền đài, lăng tẩm… bất chấp NSNN có còn tiền hay không. Mà những thứ này toàn là tiền đi vay. Vì thế nợ công của các địa phương được cộng dồn lại và đẩy lên Trung ương. Cuối cùng thì tất cả nợ đó đổ hết lên vai người dân, lên thế hệ tương lai.
Thế nhưng, điều trớ trêu là hiện nay lại chưa ai có đủ thẩm quyền để báo động ở mức cao nhất, xác lập lại nhận thức về nợ công để từ đó xác lập lại hệ thống pháp lý để xử lý nợ công một cách hữu hiệu, khoa học.
Chưa bao giờ áp lực nợ công lớn như hiện nay
Nguồn thu ngân sách của chúng ta một thời gian dài chủ yếu dựa vào dầu thô và thuế xuất nhập khẩu. Tuy nhiên giá dầu tiếp tục giảm, thuế xuất nhập khẩu sắp tới, nhất là khi thực hiện hiệp định TPP, nhiều mặt hàng về gần bằng 0%, hoặc bằng 0%. Theo ông, sự thiếu hụt này sẽ được bù bằng cách nào?
– Khách quan mà nói thì hiện nay dầu mỏ không phải là nguồn thu lớn nhất, đã có thời kỳ là lớn nhất: khoảng 30%, thậm chí có lúc lên đến 60%, nhưng hiện nay, theo dự toán, chỉ trên dưới 10%, còn thực tế chỉ khoảng 5%- 6% như năm ngoái. Còn từ các nguồn thu khác thì đang tăng lên. Đấy là cái khách quan.
Nhưng quả thật giới hạn của nguồn thu ngân sách hiện nay đang rất bí vì thuế chỉ có thể giảm chứ không tăng lên được, trừ một vài loại đặc biệt. Thứ nữa là vay nợ cũng hết, bởi vì vay nợ cũng là một nguồn thu ngân sách. Nợ trái phiếu đã tới giới hạn. Nợ công thì bây giờ phải chuyển sang vay thương mại, chứ không thể vay ODA được nữa.
Nếu nhà nước tiếp tục vay nợ thương mại thì sẽ cạnh tranh với doanh nghiệp, với các hoạt động kinh tế khác. Như vậy sẽ đẩy lãi suất đi lên. Đẩy lãi suất lên sẽ tạo ra sự trì trệ trong nền kinh tế. Nền kinh tế không phát triển được sẽ giảm nguồn thu. Nó thành một cái vòng luẩn quẩn.
Trong khi đó những nguồn thu khác không có nhiều. Bởi vì nền kinh tế của chúng ta không có yếu tố gây đột biến. Trong bối cảnh hiện nay, khi mà hàng rào thuế quan đang ngày càng trở về gần bằng 0% hoặc bằng 0%, thì đúng là nguồn thu cho NSNN là vô cùng khó khăn.

Write a Comment

view all comments

Your e-mail address will not be published. Also other data will not be shared with third person. Required fields marked as *